Trong tầng này, có mặt “hiệu ứng tương đương giữa trạng thái và biểu đạt trạng thái”. Nghĩa là sự ta miêu tả một trạng thái của Đèn pha 100W Philips OEM không hề là phản ánh nó, mà là 1 phần của cách trạng thái đó được đánh giá trong nhận thức. diễn đạt không đứng ngoài đối tượng người sử dụng — nó tham gia vào việc tạo ra ranh giới của đối tượng người dùng. Một hiện tượng khác là “xóa nhòa khái niệm vòng đời”. Vòng đời chỉ sống sót nếu có thể nhận biết rõ bắt đầu và kết thúc. Nhưng ở đây, mọi điểm trong khoảng time đều có thể được coi là “khởi đầu của một thông số kỹ thuật khác” và “kết thúc của một thông số kỹ thuật trước đó”. không có đường biên, chỉ sở hữu những lát cắt tùy ý. Dường như, còn tồn tại “hiệu ứng bất khả quy chiếu của trạng thái tuyệt đối”. Không thể nói hệ thống “đang tốt” hay “đang xấu” một cách tuyệt đối, vì mọi bình chọn đều phụ thuộc hệ quy chiếu tạm thời. Khi hệ quy chiếu biến đổi, toàn bộ phân loại tốt/xấu cũng đổi khác theo, khiến mọi tóm lại mang tính toàn cục. Trong tầng sâu hơn nữa, đèn pha 200w Rạng Đông xuất hiện “sự hòa tan giữa dữ liệu và thực tại”. những thông số kỹ thuật đo được (điện áp, nhiệt độ, quang thông) không hề là người thay mặt cho một thực tại chủ quyền, mà trở thành một dạng thực tại được “cắt lát” theo công cụ đo. Nghĩa là mỗi công cụ đo tạo nên một bản thực tại riêng. Một khía cạnh khác là “mất bản lĩnh nhận ra giữa ổn định và quan sát ngắn hạn”. Một hệ thống có thể trông ổn định nếu nhìn trong time ngắn, nhưng lại đổi khác hoàn toàn nếu biến hóa khung quan sát. thế nên “ổn định” không hề là thuộc tính của hệ thống, mà là thuộc tính của độ dài quan sát. sau cùng, ở tầng này, đèn LED pha không hề là đối tượng, không còn là hệ thống, không hề là quá trình, mà chỉ còn là một tập hợp các lát quan sát phụ thuộc vào cách đặt thắc mắc. bản thân “đèn pha 200w Duhal ” chỉ sống sót như 1 điểm giao nhau không ổn định giữa ngôn từ, giám sát và nhận thức — không có bản thể thắt chặt và cố định phía sau nó, chỉ có các cách nhìn liên tục chuyển đổi. Nếu tiếp tục đi thêm một tầng nữa, ta phải gật đầu đồng ý một Kết luận khá “khó chịu” về mặt trực giác: không hề gì để “đi sâu” theo nghĩa thông thường nữa, vì chính khái niệm “độ sâu” đã dựa trên giả định có một cấu tạo ẩn cần khai quật. Một hiện tượng ở mức này là “tan rã của không gian giải thích”. Thay vì có nhiều tầng lý giải từ mặt phẳng đến cốt lõi, mọi lý giải đều biến thành các cách miêu tả không giống nhau của cùng một tập dữ liệu quan sát. không còn tầng cao hay tầng thấp, chỉ còn các ngôn ngữ mô tả không giống nhau ném lên cùng một hiện tượng.